 |
II. Hiểm họa trường kỳ của Trung Quốc đối với VN
1- Hiểm họa về an ninh: Thế phong tỏa của Trung Cộng
Trong cuốn "Địa Lư Biển Đông", tác giả Vũ Hữu San có tŕnh bày một phóng đồ (trang 65) với một viễn tượng vô cùng bi quan một khi Trung Quốc muốn khống chế Việt Nam bằng vũ lực. Trên mặt biển hiện nay Trung Quốc đă có các căn cứ Hải Quân vùng đông nam Trung Quốc sau đây (từ bắc xuống nam):
- Quangzou (gần Hồng Kông)
- Zhanjiang (bán đảo bắc Hải Nam)
- Beihai (Trong vịnh Bắc Việt, gần biên giới Hoa Việt)
- Haikou (phía đông bắc đảo Hải Nam)
- Yulin (phía nam đảo Hải Nam)
- Hoàng Sa.
- Riêng trên quần đảo Trường Sa, Trung Quốc chưa xây được căn cứ Hải Quân, v́ đang tranh chấp với các nước. Dù vậy, Trung Quốc đă xây xong một cầu cho chiến hạm cập bến tại băi Fiery Cross. Tuy nhiên, bản phúc tŕnh của ông Michael Studeman, Hải Quân Thiếu Tá T́nh Báo Hoa Kỳ (Naval Intelligence Lieutenant Commander), dưới tiêu đề "Calculating China's Advances in the South China Sea Identifying the Triggers of Expansionism" có nhắc đến chủ trương của Hải Quân thuộc "Quân Đội Giải Phóng của Nhân Dân" (People's Liberation Army Navy - PLAN) như sau:
"In order to make sure that the descendants of the Chinese nation can survive, develop, prosper and flourish in the world in the future, we should vigorously develop and use the oceans. To protect and defend the rights and interests of the reefs and islands within Chinese waters is a sacred mission. . . . The [Spratly] Islands not only occupy an important strategic position, but every reef and island is connected to a large area of territorial water and an exclusive economic zone that is priceless."
Để thực hiện được sách lược trên, PLAN xác quyết:
"The only way to give our maritime defense a solid basis is to intensify our naval buildup and upgrade our naval buildup defense capability. We cannot resolve problems with political or diplomatic measures until we have great naval strength, and only then will it be possible to overcome our enemies without engaging in battles. If intimidation fails to achieve any effects, we would then be able to actually deal an effective blow."
Bằng vào lịch sử hành động của Trung Quốc 50 năm qua, luôn luôn dùng sức mạnh vũ lực để đạt mục đích tối hậu, viễn ảnh Trung Quốc xây cất quân cảng và căn cứ Hải Quân tại Trường Sa chỉ là vấn đề thời gian. Như vậy, Việt Nam sẽ chịu một áp lực khổng lồ của hải, lục, và không quân Trung Quốc trong tương lai đến từ mọi phía (h́nh 22). Trong một bản tin của Kanwa News ngày April 14, 1999, b́nh luận gia Andrei Pinkov đă báo động về việc Trung Quốc đă đẩy nhanh chương tŕnh xây cất hệ thống hỏa tiễn "ground-to-air " bắn từ đất liền lên không trong kế hoạch pḥng vệ không gian. Trung Quốc đă điều nghiên hệ thống chỉ huy C31, bằng vệ tinh không gian (h́nh 23), đă bắt đầu thiết trí tại một vài căn cứ quân sự và sẽ được hoàn tất cho toàn quốc trong vài năm tới.
Đầu năm 2000, cơ quan thông tấn AP có đề cập đến dự án xây xa lộ Trường Sơn trên đường ṃn Hồ Chí Minh. Tin tức về dự án này làm xôn xao dư luận cộng đồng Việt Nam cũng như quốc tế. Nhiều người lo ngại về ảnh hưởng môi sinh của dự án, như phá rừng, đất lở, lụt lội miền đồng bằng, nhưng không mấy ai để ư đến khía cạnh quân sự. Hiển nhiên, dự án này là kết quả của việc Hà Nội đă kư thuận bản hiệp ước biên giới vào cuối năm 1999. Điều đáng chú ư là con đường ṃn HCM trong thời chiến chỉ bắt đầu từ Nghệ An, mạn bắc của rặng Trường Sơn, nhưng dự án xây xa lộ mới lại bắt đầu từ tỉnh Lai Châu, tỉnh cực tây bắc của Việt Nam tiếp giáp với Lào và Trung Quốc. Dự án xa lộ chạy qua miệt phía tây rặng Hoàng Liên Sơn, qua phía đông ḷng chảo Điện Biên Phủ, xuống Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Tây Ninh, Gia Nghĩa, An Lộc, và nhập vào Quốc Lộ 1 tại Tây Ninh. Quốc lộ 1 chạy từ Bắc dọc duyên hải vào Sài G̣n rồi đổi hướng chạy về phía Tây qua Nam Vang, Cambodia. Như vậy việc chuyên chở từ biên giới cực bắc vào nam sẽ ngắn hơn và thuận tiện hơn quốc lộ 1. Từ đó, người ta có thể suy ra viễn ảnh bán đảo Đông Dương có thể bị Trung Quốc thôn tính một cách dễ dàng.
2. Hiểm họa về kinh tế: Mất những tài nguyên quan trọng
Từ khi lập quốc đến nay, sinh mệnh dân tộc Việt Nam luôn luôn gắn liền với ngư nghiệp và hải sản. Với sự lấn chiếm của Trung Quốc trên vịnh Bắc Việt, Hoàng Sa, và Tây Sa, nguồn lợi hải sản, ngư sản bị thu hẹp lại khá nhiều.
V́ đáy biển quanh các quần đảo khá cạn và nhiều san hô, nhiều loài cá sinh sản tại các vùng này. Từ nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên này đă bị người cướp đoạt và sẽ ảnh hưởng đến sự trù phú của bờ biển Việt Nam.
Hiện nay, nguồn dầu hỏa và khí đốt là năng lượng thiết yếu cho việc phát triển kỹ nghệ và sự phù thịnh kinh tế. Hoàng Sa cũng như Trường Sa là những nơi có túi dầu nằm phía dưới (h́nh 24). Mất hai vùng này, Việt Nam chỉ c̣n túi dầu nằm ngoài khơi đảo Côn Sơn mà thôi. Vùng này nằm trong lănh hải EEZ của Việt Nam. Thế nhưng cũng đă có lần vào năm 1996, một chiếc tàu với dụng cụ rà dầu (oil survey) của Trung Quốc đă bị phát hiện.
3. Hiểm họa về giao thông: Thủy lộ gián đoạn
Bản đồ về thủy lộ của tàu viễn duyên (h́nh 25) trích từ tài liệu của U.S. Institute for Naval Strategic Studies cho thấy Biển Đông thủy lộ hàng hải chính cho tàu bè từ các nước nằm trong vùng đông bắc Á Châu chạy xuống vùng Tây Nam.
Đây không chỉ là một hiểm họa riêng cho Việt Nam, mà c̣n cho cả thế giới, nếu Trung Quốc thành công trong việc phong tỏa toàn vùng biển này như là một "nội hải" (territorial waters) của họ.
Trong một bài báo mới đây của tổ chức U.S. Heritage Foundations, tựa đề "How the Bush Administration Should Handle China and South China Sea Maritime Territorial Disputes", Sep. 05, 2001, tác giả Dana R. Dillon đă báo động về sự phong tỏa của Trung Quốc trên vùng biển Đông Hải. Tác giả trích dẫn bản tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền toàn vùng Biển Đông, trong đó có "Điều 64" như sau:
"The People's Republic of China reaffirms that the provisions of the United Nations Convention on the Law of the Sea concerning innocent passage through the territorial sea shall not prejudice the right of a coastal state to request, in accordance with its laws and regulations, a foreign state to obtain advance approval from or give prior notification to the coastal state for the passage of its warships through the territorial sea of the coastal state."
Rơ ràng đó là một sự thách thức công khai đối với các quốc gia trên thế giới nói chung và với Hạm Đội Thái B́nh Dương của Mỹ nói riêng trong việc hải hành qua Biển Đông. Hành động kiểm soát và bắt giữ các tàu chở hàng của Việt Nam từ năm 1992 và sự kiện Trung Quốc xây cất trạm hải quân (navy station) năm 1995 tại vùng đá ngầm Mischief Reef nằm trong hải phận EEZ của Phi Luật Tân, đă biểu lộ quyết tâm của Trung Quốc trong việc kiểm soát tàu bè qua lại trong Biển Đông. Về mặt ngoại giao, Trung Quốc tham dự các cuộc thương thảo và kư vào các giao ước ngăn cấm việc sử dụng vũ lực. Nhưng hành động của họ th́ ngược lại và luôn luôn vô hiệu hóa một cách có hệ thống (systematically nullify) bản Luật Biển Liên Hiệp Quốc UNCLOS.
Cũng theo nhận định của b́nh luận gia Dillon, cho đến nay, các chính phủ Mỹ từ Clinton cho đến Bush vẫn giữ thái độ thụ động ngay cả khi Trung Quốc lấn chiếm một vùng đá ngầm của Phi Luật Tân, một đồng minh của Mỹ. Hoa Thịnh Đốn vẫn tiếp tục giữ thái độ "trung ḥa" (neutrality), từ chối lên án hay phản đối hành động lấn chiếm của Trung Quốc, và chỉ kêu gọi các bên nên tự hạn chế trong việc dùng vũ lực để giải quyết các cuộc tranh chấp. Một trong những suy diễn để giải thích sự thụ động của chính phủ Mỹ là: Hiện nay Washington phải theo chính sách ḥa hoăn với Trung Cộng để phân chia nguồn lợi kinh tế từ việc khai thác dầu hỏa, và cũng để nhờ Trung Quốc giúp đỡ trong cuộc chiến chống khủng bố tại A Phú Hăn.
Trong khi đệ nhất cường quốc thế giới ngại phản kháng Trung Quốc như thế, th́ các nước ASEAN lại không dám "bênh" nhau hoặc đoàn kết để chống lại Trung Quốc. Nh́n rơ t́nh trạng hiện nay, mới thấy sự suy luận của một số người Việt Nam cho rằng Hoa Kỳ sẽ không bao giờ để yên cho Trung Quốc thực hiện được mộng bá quyền của họ trên Biển Đông, để rồi kết luận rằng dân tộc Việt Nam khỏi cần làm ǵ cả đối với Trung Quốc, quả thật là một sự lạc quan đầy tai hại.
Đối với Việt Nam, sự phong tỏa ngoài khơi của Trung Quốc về đường biển sẽ làm cho các hải cảng quan trọng như Hải Pḥng, Đà Nẵng, Cam Ranh và Vũng Tàu mất hẳn tầm mức hữu hiệu, khi mà các thương thuyền ngoại quốc muốn đi từ ngoài khơi biển Đông vào các hải cảng này lại phải "xin phép" Trung Quốc.
4. Hiểm họa về môi sinh: Rủi ro về dầu loang và khí độc
Các cuộc khai thác dầu cặn và khí đốt trong vùng Biển Đông sẽ phóng ra trên mặt biển nhiều khối lượng dầu thô bị tràn ra cũng như trong không gian các loại khí đốt chưa dùng. Nếu nhà máy lọc dầu và lọc gas được xây cất trên Hoàng Sa và Trường Sa, các chất đổ tràn hay thoát ra từ nhà máy sẽ nhiều hơn. Quanh năm, gió biển thổi vào Việt Nam chỉ có hai chiều: hoặc từ hướng đông bắc trong mùa đông, hoặc từ đông nam trong mùa hè. Gió mùa nào cũng sẽ mang dầu tràn trên biển hoặc khí đốt lan trong không gian vào nội địa Việt Nam. Dầu nổi trên biển sẽ làm ô nhiểm nước biển, sẽ che ánh nắng mặt trời làm cho đáy biển tối tăm và mất đi điều kiện sinh sản. Khí trên không sẽ lẫn vào hơi nước, gặp rặng Trường Sơn, đông lạnh và thành mưa độc trên sinh vật thực vật. Nếu việc khai thác do chính người Việt Nam quản trị, th́ v́ phúc lợi của dân tộc, chúng ta sẽ thận trọng trong mọi việc phế thải chất độc. Ngược lại, người Trung Quốc sẽ không bao giờ quan tâm đến sự an nguy vủa người Việt Nam.
Xem phần kế tiếp:
III. Trách nhiệm của các chính phủ cầm quyền tại Việt Nam trong 50 năm qua
|