HOME | ABOUT US | TOPICS | DOWNLOADS | LINKS | FAQ | ENGLISH VERSION
 
NGHĨA VỤ BẢO VỆ BỜ CÕI VIỆT NAM



Nghĩa Vụ Bảo Vệ Bờ Cơi VN (6)

THỨ BẢY 19 THÁNG GIÊNG 2002

Phần Hai: Phân Tích

 

I. Các cuộc nhượng bộ của Hà Nội đối với Bắc Kinh


Viết về các cuộc thương thảo giữa Bắc Kinh và Hà Nội không đơn giản và dễ dàng. Lư do chính là Hà Nội giữ nội dung các cuộc thương thảo vô cùng bí mật. Đảng CSVN lúc nào cũng tự xem là đại diện nhân dân, nhưng không bao giờ hỏi ư hay báo cáo cho nhân dân được rơ. Các tài liệu, v́ thế phần lớn được sưu tầm từ báo chí quốc tế hay thư khố Trung Quốc. Ta có thể suy đoán rằng đảng CSVN phạm nhiều trọng tội đối với nhân dân nên phải triệt để dấu kín những ǵ đă thỏa thuận đối với Trung Quốc. Điều này sẽ được trưng dẫn trong phần này. Tuy nhiên, trước hết ta hăy t́m hiểu về những nguyên nhân bề mặt cũng như bề trái của Trung Quốc khi xâm lấn lănh thổ và lănh hải của Việt Nam.

1- Tham vọng bá quyền của Trung Quốc


- Bành trướng biên giới lănh thổ

Khi cử đại quân xâm lấn bờ cơi Việt Nam, Bắc Kinh đă đưa ra một số lư do mà họ cho là "tự vệ chính đáng", như sau:

* Cảnh cáo Hà Nội không được nuôi tham vọng thôn tính Lào và Campuchia. Vào thời gian đó đảng CSVN đă cho quân tràn sang đánh đuổi Polpot, thủ lănh Khemer Đỏ thân Trung Cộng nói là để cứu dân campuchia khỏi nạn diệt chủng. Ở Lào, CSVN cũng đă thiết lập một chính phủ thân Hà Nội. Đối với Bắc Kinh, thế liên hiệp ba nước Việt Miên Lào có nguy cơ trở thành liên bang Đông Dương sẽ ngăn chặn mộng bá quyền của Trung Quốc về phía nam.

* Phá vỡ thế liên hiệp hỗ tương giữa Liên Sô và Việt Nam. Ngày 3 tháng 11, 1978, Moscow và Hà Nội kư hiệp ước quốc pḥng, mở đầu cho sự hiện hữu thường trực của quân đội Soviet Union (Liên Sô) tại hải cảng Cam Ranh. Theo tài liệu chính phủ Mỹ, bắt đầu từ tháng 9-1978, Liên Sô bắt đầu gia tăng việc chuyên chở vũ khí cho Việt Nam cả đường biển lẫn đường bay (Bruce Elleman, "Sino-Soviet Relations" 20 April 1996.) Đây là thế gọng kềm chiến lược mà Bắc Kinh rất lo sợ. Trong khi đó cuộc tranh chấp biên giới giữa Liên Sô và Trung Quốc vào cuối thập niên 60 càng ngày càng thêm căng thẳng. Như vậy, cuộc xâm lấn biên thùy Việt Nam của Trung Quốc c̣n có hai mục tiêu chiến lược. Một là biểu thị cho Hà Nội thấy rằng "sự cam kết của Soviet trong việc bảo đảm yểm trợ quân sự cho Việt Nam" chỉ là một điều không tưởng. Hai là giải đáp bài toán cân năo: Soviet có thật sự là một siêu cường đáng sợ không, hay chỉ là một con gấu giấy "paper polar bear". Điều đáng lưu ư là: Sau cuộc lấn chiếm biên giới Việt Nam từ 15 tháng 2 đến 4 tháng 3, 1979, gần một tháng sau, ngày 3 tháng 4, Bắc Kinh tuyên bố chấm dứt Hiệp ước Liên Sô - Trung Quốc kư năm 1950 về Hữu Nghị, Liên Minh, và Hỗ Tương giữa hai nước.

* Cảnh cáo Hà Nội áp dụng chính sách "kỳ thị" với người Hoa Kiều sinh sống lâu đời tại Việt Nam như ở Chợ Lớn, Hải Pḥng, v.v..., Từ đầu năm 1978, trên nửa triệu người Việt gốc Hoa đă phải ra đi "vượt biên bán chính thức", để lại nhà cửa, gia tài, của cải cho đảng viên cao cấp đảng CSVN thu gom và chia chác.

Tuy nhiên, những lư do "tự vệ" hay "công đạo" mà Trung Quốc nêu ra chỉ là vỏ bọc của một âm mưu thâm độc, và cuộc lấn chiếm biên thùy Việt Nam chỉ là bước đầu của một kế hoạch "Đại Trung Quốc" mà Bắc Kinh bắt đầu theo đuổi từ thập niên 50.

Năm 1950, một năm sau ngày dành được đất nước từ tay Tưởng Giới Thạch và Trung Hoa Quốc Dân Đảng để chính thức thành lập nước Trung Hoa Cộng Ḥa Nhân Dân Quốc, Trung Quốc đă công bố một bản đồ rộng lớn (h́nh 15: "Paracels Forum", Muzi Daily News, 6/26/01), bao trùm một phần lớn các quốc gia tiếp giáp với Trung Quốc như: (tính từ Tây bắc theo chiều kim đồng hồ) Mongolia, East Russia, Đại Hàn, Việt Nam, Lào, Miên, Thái Lan, Tây Tạng, Miến Điện, Bhutan, Nepal, một phần nhỏ của Ấn Độ, Pakistan, và Kyrgyzstan. Đây là một sự kiện chưa hề được ghi lại trong tài liệu thư khố ở bất cứ quốc gia tây phương nào. Bắc Kinh chỉ tuyên bố mơ hồ rằng biên giới và lănh hải này có từ thời nhà Hán (khoảng thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên).


- Bành trướng lănh hải

Theo bản đồ với những ghi chú bằng chữ Trung Hoa, th́ Trung Quốc không những dành chủ quyền cả các biển tiếp giáp với Trung Quốc như Korea Bay, Yellow Sea (bắc Thượng Hải), East China Sea (Bao gồm Đài Loan), South China Sea (Biển Đông của Việt Nam), mà c̣n lấn sang cả Vịnh Thái Lan, và một phần của Ấn Độ Dương nữa.

Trong một tài liệu khác (h́nh 16) từ U.S. International Institute for Strategic Studies (IISS - FAS, January 30, 2000), Mao Trạch Đông đă chỉ thị cho Chu Ân Lai ra tuyên cáo xác nhận chủ quyền trên toàn thể "Nanhai" là "nội hải", và hai quần đảo "Xisha" và "Nansa" là lănh thổ của Trung Quốc. H́nh 17 là bản đồ chín gạch do Bắc Kinh phổ biến.

Mặt khác, cũng theo thống kê của IISS, Trung Quốc đang nuôi dưỡng một đạo quân gần 3 triệu người. Với một lực lượng hùng hậu như vậy, cộng thêm tham vọng bành trướng lănh thổ bằng vũ lực, Trung Quốc là mối đe dọa sinh tử hàng đầu cho các nước trong vùng Đông Nam Á, nhất là Việt Nam. Hiện nay, Trung Quốc theo chiến lược lấy sức mạnh để uy hiếp từng nước yếu, chỉ chịu thương thuyết song phương mà không chịu thương thuyết đa phương, không để các nước đưa Trung Quốc vào thế "mănh hổ nan địch quần hồ."

Trong khi đó, đảng CSVN đă đối phó như thế nào trong các vụ thương thảo với Trung Quốc từ trước đến nay? Họ đă "đối phó" bằng cách nhượng bộ tiên tục để trục lợi và củng cố thế lực của đảng. Đây là vấn đề sẽ được phân tích kế tiếp.

2- Những nhượng bộ của Hà Nội


- Nhượng bộ quần đảo Hoàng Sa

Năm 1974, khi Trung Cộng tiến chiếm Hoàng Sa và VNCH chống trả mănh liệt, th́ Hà Nội hoàn toàn im lặng.

Năm 1975, VNCH ban hành bạch thư và tuyên cáo xác nhận chủ quyền trên hai quần đảo với quyết tâm bảo vệ bờ cơi. Bản tuyên cáo có đoạn mở đầu như sau:

"Bổn phận cao cả và cấp bách nhất của một chính phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập, và sự toàn vẹn lănh thổ của quốc gia. Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa quyết tâm thi hành bổn phận này, mặc cho bao khó khăn gặp phải và mặc cho những trở ngại đến bất cứ từ đâu.

Đối diện với cuộc lấn chiếm bằng vũ lực bất hợp pháp của Trung Cộng trên quần đảo Hoàng Sa, một phần của lănh thổ nước Việt Nam Cộng Hoà, chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa thấy cần tuyên cáo trước dư luận thế giới, bạn cũng như thù, rằng:

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần bất khả phân của nước VNCH. Chính phủ VNCH sẽ không nhượng bộ trước vũ lực và chịu mất chủ quyền trên các quần đảo này."

("The noblest and most imperative task of a Government is to defend the sovereignty, independence and territorial integrity of the Nation. The Government of the Republic of Vietnam is determined to carry out this task, regardless of difficulties it may encounter and regardless of unfounded objections wherever they may come from.

In the face of the illegal military occupation by Communist China of the Paracels Archipelago which is an integral part of the Republic of Vietnam, the Government of the Republic of Vietnam deems it necessary to solemnly declare before world opinion, to friends and foes alike, that:

The Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) archipelagoes are an indivisible part of the territory of the Republic of Vietnam. The Government and People of the Republic of Vietnam shall not yield to force and renounce all or part of their sovereignty over those archipelagoes.")

Trong khi đó, Hà Nội vẫn giữ thái độ im lặng, v́ Hà Nội đă có quá nhiều thương lượng và nhượng bộ bí mật từ trước, măi sau này mới lộ ra.

Những nhượng bộ của đảng CSVN đối với Trung Quốc có thể được truy nguyên từ ḷng ham muốn "thống nhất lănh thổ" của đảng từ năm 1950, khi hai nước Trung Quốc và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà kư hiệp ước hữu nghị và hỗ tương. Từ đó đến 1975, Bắc Kinh đă viện trợ cho Hà Nội trên 20 tỷ Mỹ Kim (King C. Chen, Chiana's War with Vietnam). Đương nhiên, Hà Nội phải trả nợ bằng cách này hay cách khác. Tiền và tài nguyên không có để trả th́ phải trả bằng lănh hải và lănh thổ, nhất là lănh thổ đang nằm trong ṿng kiểm soát của Việt Nam Cộng Ḥa.

Dấu hiệu khởi đầu của hành động "trả nợ" này là văn thư nhượng đảo và nhượng biển của Thủ Tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng, kư ngày 14-9-58, để đáp ứng với bản tuyên bố về lănh hải và "bản đồ chín gạch" (the nine dash map - h́nh 17) của Trung Quốc ban hành 10 ngày trước đó, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và một lănh hải bao bọc gần hết bờ biển Việt Nam, lan ra tận Phi Luật Tân, chạy dài xuống tận bờ biển Nam Dương, Mă Lai. Đọc câu đầu của văn thư Phạm Văn Đồng gởi cho Chu Ân Lai (h́nh 18) "Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ Cộng ḥa Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc." Người ta thấy ngay đă có sự thương thảo và thỏa thuận bí mật giữa Bắc Kinh và Hà Nội từ nhiều ngày trước, và sự di nhượng đất nước Việt Nam phát nguyên từ tham vọng thống nhất đất nước của Đảng CSVN.


- Nhượng bộ biên giới Hoa Việt 1979

Như các phần trên đă tŕnh bày, trận xâm chiến của Trung Quốc vào biên giới phát nguyên từ nhiều nguyên do, trong đó, tham vọng lấn chiếm và thôn tính các nước láng giềng là động cơ thầm kín c̣n mục tiêu phá vỡ hiệp ước liên kết của Liên Sô - Việt Nam kư vào năm 1978 là lư do bên ngoài. Dĩ nhiên, v́ đă lỡ chọn theo Liên Sô và trở thành kẻ thù của Trung Quốc, Hà Nội phải kháng cự v́ sự sống c̣n của chế độ, chứ không phải để bảo toàn đất nước. Bằng cớ CSVN xem nhẹ về sự vẹn toàn lănh thổ được nêu lên bằng một chuỗi thảo luận và tương nhượng sau khi Trung Cộng rút quân về.

Kết quả sau 15 lần thương thảo là việc CSVN thỏa thuận nhường cho Trung Quốc 720 km vuông ở vùng Lạng Sơn mà nhiều cán bộ CSVN trong nước đă tố cáo lănh đạo đảng. Nhưng diện tích này chỉ tính ở biên giới Nam Quan vùng Đồng Đăng tỉnh Lạng Sơn mà thôi. Theo tài liệu từ Trung Quốc mà giáo sư Trần Đại Sỹ thu thập, th́ cổng Hữu Nghị đă bị dời về phía nam, cách ải Nam Quan 5 cây số, và nằm trong địa phận của quận Đồng Đăng (h́nh 19). Hiện nay, trạm ga xe lửa xuyên quốc gia đặt tại Đồng Đăng là trạm kiểm soát của hai bên (h́nh 20 - Vietnam and China Rebuild Ties, The Christian Science Monitor - International, Oct 3, 1997).


Đó là chưa kể bề dày của biên giới mới khoảng 600 m cũng nằm trong lănh thổ Việt Nam. Du khách từ nước này phải đi bộ giữa 2 trạm mới qua được biên giới nước kia.

Trên thực tế, diện tích đất đai mất mát lên hàng ngàn cây số vuông, nếu tính cả các vùng phải di nhượng ở Cao Bằng và Lào Kay. Theo tài liệu Pacific Forum CSIS Comparative Connections, cuộc thương thảo lần cuối (thứ 15) giữa hai bên Việt Hoa kéo dài một tháng từ 22-6 đến 22-7-1999. Hai bên nỗ lực làm việc để kịp thời hạn kư kết hiệp ước vào cuối năm theo lệnh của các chủ tịch đảng. Mất thời gian nhất là một số "bất đồng ư kiến về ranh giới trong 76 vùng tranh chấp". Lược qua các ghi chép (chronology) của CSIS về các cuộc thăm viếng qua lại giữa đôi bên, hay các cuộc thảo luận song phương, người ta thấy rất rơ là Hà Nội luôn luôn ở thế bị động và sau những lần dằng co từ chối, đều phải chấp nhận những đ̣i hỏi của Bắc Kinh. Kết quả, hiệp ước biên giới song phương đă được bộ trưởng ngoại giao Tống Gia Xuân và Nguyễn Mạnh Cầm kư vào ngày cuối năm (30-12-1999). Ngày 29-4-2000, quốc hội Trung Quốc thông qua hiệp ước; ngày 9 tháng 6, 2000, quốc hội CSVN cũng thông qua. Hiển nhiên là hai bên đều được lợi: Trung Quốc được chủ quyền các vùng đất huyết mạch kiểm soát phía bắc ngạn các sông Kỳ Cùng và sông Bằng, hầu có thể mở tung cánh cửa vào phía nam, mà mấy ngàn năm qua các cuộc xâm lăng từ phương Bắc thường bị chặn v́ địa thế hiểm trở.

Khi đất đă nhượng th́ cũng nhượng luôn cả dân bản xứ, ai không muốn sống trong vùng quản chế của Trung Quốc th́ được giúp đỡ tái định cư trên đất hoang ở ranh giới phía nam các sông Kỳ Cùng và sông Bằng.

Khi nhượng đất như thế th́ Hà Nội được lợi gi? Theo tiết lộ của nhật báo Xinhua, món lợi đưa đến từ cuộc di nhượng đất đai này là việc giao thương lên đến hàng tỷ mỹ kim và việc Bắc Kinh viện trợ cho Hà Nội xây dựng các dự án kỹ nghệ về thủy lực (hydropower), thép, hơi đốt, phân bón và quặng nhôm (bauxite).

Có người đặt vấn đề rằng nếu Hà Nội phải hy sinh vài ngàn cây số đất hoang mà được viện trợ như thế th́ đó là việc "thuận mua vừa bán" và việc "bán nước" không c̣n là một "tội" như những người khác buộc. Lư luận như thế có hai điều không chỉnh: Thứ nhất, đất nước là của dân tộc, không phải của bất cứ một chế độ nào. Chế độ không có quyền cắt nhượng đất đai của dân tộc cho người để được lợi trong thời đại của ḿnh. Thứ hai, lư luận "thuận mua vừa bán" mặc nhiên chấp nhận tính cách đổi chác của Bắc Kinh trong việc "mua" đất của dân tộc Việt Nam bằng một cái giá được nhà cầm quyền CSVN chấp nhận, do đó sẽ rất khó cho dân tộc Việt Nam đặt vấn đề bất công để đ̣i lại sau khi chế độ hiện hữu cáo chung. Thực tế cho thấy Bắc Kinh vừa dùng vũ lực, vừa mua chuộc, vừa gạt gẫm lănh đạo Hà Nội để chiếm cho bằng được các vùng đất có quặng mỏ quư và có địa lợi chiến thuật, làm đầu cầu xâm lược sau này. Trong bản tường tŕnh của Giáo sư Trần Đại Sỹ, ông đă nêu lên những "nghi vấn" về vụ một số nhân vật lănh đạo cao cấp "thân Nga chống Hoa" đă bị đầu độc, trở thành "bán thân bất toại." Nếu những nghi vấn này có thật, th́ cũng chẳng bao giờ có thể trở thành những vụ án được cứu xét. Trong chế độ cộng sản, không bao giờ có "công lư" cho người ngă ngựa.


- Nhượng bộ một phần vịnh Bắc Việt

Vụ nhượng đất vừa xong th́ tiếp đến vụ sang nhượng một phần biển trong vịnh Bắc Việt (Tonkin Bay). Theo Luke T. Chang, (China's Boundary Treaties and Frontiers Disputes), hiệp ước Pháp - Thanh được kư kết tại Bắc Kinh trên 100 năm trước, ngày 26-6-1887, có ghi rơ đường phân ranh giới hải phận EEZ (Exclusive Economic Zone) trong vịnh Bắc Việt được lấy theo đường kinh tuyến (longgitude) 108o03'18"E (tính từ Greenwood) khởi đầu từ biên giới bờ biển giữa hai nước tại Vịnh Tonkin. Bắc Kinh không đồng ư tuân theo hiệp ước cũ và đ̣i hỏi Việt Nam phải chấp nhận lấy đường trung tuyến để ấn định lănh hải EEZ giữa hai nước. Tuy nhiên đường trung tuyến của Bắc Kinh dựa trên đảo Hải Nam và bờ biển Việt Nam, trong khi Hà Nội chủ trương trung tuyến nằm giữa hai đảo Bạch Long Vĩ và Hải Nam. Tính ra, sự khác biệt là vùng màu xám ở giữa vịnh, với một diện tích trên 5 ngàn cây số vuông (h́nh 21).

Sau một năm thảo luận, Hà Nội lại phải nhượng bộ, chịu hủy bỏ hiệp ước Pháp-Thanh, chịu mất độc quyền kinh tế trong vùng xám. Vùng này nằm trong thềm lục địa của Việt Nam, rất gần với đảo Bạch Long Vĩ, có nhiều tôm cá và các loại hải sản khác cũng như tiềm năng về khí đốt dưới ḷng biển. Ngày 25-12-2000, Chủ Tịch Nhà Nước Trần Đức Lương sang Trung Quốc kư hiệp ước lịch sử chấp nhận hải phận theo đường vẽ của Trung Quốc. Hiệp ước cũng phân định sự hợp tác đánh cá và sử dụng tài nguyên năng lực nguyên tử giữa hai nước. Lại một lần nữa, quyền lợi và sự sống c̣n của chế độ được Hà Nội đặt lên trên chủ quyền toàn vẹn lănh thổ của dân tộc.


- Nhượng bộ tại quần đảo Trường Sa

Việc nhượng bộ tại quần đảo Trường Sa hiện nay là vấn đề gay go nhất cho chế độ CSVN. Tất cả tài liệu của VNCH đều xác định chủ quyền toàn vẹn trên lănh thổ ngoài khơi này. Hiện nay, Hà Nội không những đương đầu với Trung Quốc mà c̣n với nhiều quốc gia khác như Đài Loan, Phi Luật Tân, Mă Lai là các nước đă chiếm đóng một phần của quần đảo. Một điều vô cùng nghịch lư, là Trung Quốc không chịu thương thuyết đa phương (multilateral discussion) mà chỉ chịu thương thảo song phương (bilateral) với các quốc gia Phi Luật Tân và Mă Lai Á, nhưng lại không chịu thương thuyết với Việt Nam về Trường Sa. Điều nghịch lư này tương tự như những tên cướp bàn luận để chia chác những ǵ cướp được, c̣n người bị cướp th́ không được dự vào. Nguồn lợi dầu hỏa và khí đốt lớn lao trong vùng không cho phép Hà Nội nhượng bộ các nước một cách dễ dàng. V́ nếu chấp nhận t́nh trạng chiếm đóng của các nước, th́ Hà Nội sẽ bị mất vĩnh viễn một nguồn lợi lớn. Mặc dù hiện nay Hà Nội thừa hưởng di sản của VNCH để lại, chiếm đóng nhiều đảo và diện tích rộng lớn hơn tất cả các nước cộng lại, nhưng trên 50% vùng dầu hỏa và khí đốtlạinằm trong hải phận EEZ của Mă Lai Á. Mặt khác, đối với Trung Quốc, Hà Nội lâm vào t́nh trạng "há miệng mắc quai", v́ bị kẹt với văn thư của Phạm Văn Đồng chấp nhận lănh hải rộng lớn của "Đại Trung Quốc." từ năm 1958.

Do đó, hiện nay Hà Nội có vẻ "chịu phép" với Trung Quốc, không dám hăng hái tranh đấu bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.

Theo tờ LatelineNews ngày 15-2-2001, dưới tựa đề "Vietnam Distances Itself from Spratly Islands Report", Hà Nội đă "né tránh trách nhiệm" khi tờ Sài G̣n Giải Phóng, một đại nhật báo của đảng tại miền Nam tương tự như tờ Nhân Dân ở miền bắc, đăng một bài báo tiết lộ rằng "các viên chức cao cấp của đảng và quân đội đă họp kín để thảo luận về việc thành lập đơn vị quản trị hành chính riêng cho quần đảo Trường Sa và thiết kế việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam."

Bài báo của tờ SGGP đă gây nên một "phản ứng bén nhạy" từ phía Trung Quốc. Phát ngôn nhân bộ ngoại giao Trung Quốc Zhu Bangzao (Dư Bằng Giao) đă lên tiếng: "Trung Quốc có chủ quyền toàn vẹn bất khả tranh chấp đối với quần đảo Nansha và toàn vùng lănh hải liên hệ. Bất cứ quốc gia nào có hoạt động ǵ trên quần đảo này đều xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc, đều bất hợp pháp và vô giá trị."

Để đáp lại lời tuyên bố của Dư Bằng Giao, phát ngôn nhân bộ Ngoại Giao CSVN Phan Thúy Thanh giải thích một cách ngượng ngập: "Đó (báo SGGP) chỉ là một tờ báo thành phố ("only a city newspaper"). Bà Phan Thúy Thanh nhiều lần từ chối trả lời trực tiếp các câu hỏi của nhiều kư giả về việc nhà nước CHXHCNVN minh định thế nào về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, mà chỉ giải thích rằng "theo sử liệu của Việt Nam Cộng Hoà thời trước, quần đảo này được xem là một phần của tỉnh Khánh Ḥa."

Xem như thế, người Việt Nam không c̣n hy vọng ǵ ở đảng CSVN trong việc tranh đấu với Trung Quốc để đ̣i lại chủ quyền về lănh thổ và lănh hải mà Trung Quốc đă lấn chiếm bằng một kế hoạch dài hạn và có hệ thống sách lược từ nửa thế kỷ qua. Sự lấn chiếm này sẽ tiếp diễn liên tục theo chiến lược tiệm tiến như vết dầu loang, cho đến khi Trung Quốc hoàn thành tham vọng "Đại Trung Quốc" của họ. Để tự cứu, dân tộc Việt Nam cần ư thức được mối hiểm họa ngoại xâm này hầu có một sách lược đấu tranh quyết liệt và hữu hiệu đối với Trung Quốc. Cuộc đấu tranh này phải được tiến hành song song với cuộc đấu tranh giải trừ mối hiểm họa nội thù của dân tộc là chế độ CSVN.

Xem phần kế tiếp: II. Hiểm họa trường kỳ của Trung Quốc đối với Việt Nam


   
Giới thiệu
Tài liệu
Nhu liệu
Thắc mắc (FAQ)
Liên lạc HCGVN
Nối kết

Phân Hội Á Châu
Nhật
Phân Hội Âu Châu
Anh
Bỉ
Đức
Đan Mạch
Ḥa Lan
Na Uy
Pháp
Thụy Sĩ
Phân Hội Bắc Mỹ
Atlanta
Bắc California
Boston
Dallas
Houston
Illinois
Nam California
Toronto
Washington
Washington D.C.
Phân Hội Úc Châu
ACT
Nam Úc
New South Wales
Queensland
Tây Úc
Victoria

 
 
VPS - 5150 Fair Oaks Blvd, Ste 101-128 Carmichael, CA 95608-5758 USA Email: contact@vps.org