|
3. Vụ Trung Quốc xâm chiếm Trường Sa (Spratly Islands) và đánh ch́m chiến hạm của Việt cộng năm 1988
Hiện nay có khá nhiều tài liệu về vụ Trung Cộng xâm chiếm Trường Sa (Tàu gọi là Nansha - Nam Sa) và công bố bản đồ lănh hải bao gồm cả Biển Đông Hải (Tàu gọi là Nanhai - Nam Hải).
Về phía Việt Nam, có các cựu sĩ quan Hải Quân VNCH như:
Ông Vũ Hữu San với tác phẩm "Địa Lư Biển Đông Với Hoàng Sa và Trường Sa".
Ông Trần Đỗ Cẩm với bài viết "T́nh H́nh Chiếm Đóng Tại Quần Đảo Trường Sa, đăng trên website của Tổng Hội Hải Quân và Hàng Hải: http://www.vietnamnavy.com.
Tuy nhiên tài liệu giá trị và chính thức nhất là cuốn Bạch Thư của bộ Ngoại Giao của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa được công bố sau vụ Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa và trước khi Sài G̣n thất thủ. Tài liệu này có thể được t́m thấy trong mạng lưới "Pacific Forum - The Discussion Proceeds For Peace". Đây là một tài liệu khá dày, trên 50 trang, viết bằng Anh ngữ, có tựa đề là "White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands". Đính kèm cuốn bạch thư là "Tuyên Cáo của Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa, February 14, 1974". Cả hai tài liệu có ghi xuất xứ và thời gian là "Republic of Vietnam, Ministry of Foreign Affairs, Saigon, 1975, nhưng v́ không phải là nguyên bản nên không có phóng ảnh của chữ kư hay dấu triện của cơ quan này.
Về phía quốc tế, có nhiều tài liệu, trong số đó, các bài viết sau đây chứa nhiều chi tiết quan trọng:
"A code of Conduct for the South China Sea?", Jane's Intelligence Review, Oct 27, 2000
"South China Sea Dispute: Prospects For Preventive Diplomacy", United States Institution of Peace Special Report.
"Spratly Islands," FAS Military Analysis Network, John Pike, Jan 30, 2000.
"Spratly Islands Dispute (Spratly Case No. 325)", Trade and Environment Database Project, April 30, 1996.
Nh́n qua bản đồ (h́nh 8 và 9), quần đảo Trường Sa có vẻ gần với Philippines và Malaysia hơn Việt Nam. Tuy nhiên, các tài liệu quốc tế đều xác nhận sự có mặt của người Việt Nam từ thế kỷ thứ 17 hoặc xưa hơn, trong khi Đài Loan chỉ mới hiện diện trên một ḥn đảo sau Thế Chiến thứ hai, khi tiếp thu sự bại trận của Nhật Bản. C̣n Philippines và Malaysia th́ mới chiếm giữ và tuyên bố chủ quyền trên một vài đảo sau cuộc thất thủ của Việt Nam Cộng Ḥa.
Biển Đông là một trong vài vùng biển có nhiều tàu bè qua lại nhất, v́ là đường giao thương từ Nhật, Đại Hàn, Mỹ từ hướng đông-bắc xuống tây-nam tiếp cận với Thailand, Malaysia, Singapore, Ấn Độ, v.v... Biển Đông cũng nổi tiếng về nguồn lợi ngư sản hầu như bất tận v́ đáy biển không sâu và có nhiều chỗ sinh sản (habitats) cho nhiều loại cá. Từ hậu bán thế kỷ 20 đến nay, với sự khám phá dầu hỏa và khí đốt trong Biển Đông, quần đảo Trường Sa đột nhiên trở thành quan trọng như một vùng tài nguyên trù phú.
Theo tài liệu của Jane's Intelligence, toàn vùng Trường Sa gồm khoảng 200 ḥn đảo lớn nhỏ và 200 băi đá ngầm. Diện tích tổng số đá nổi lên trên mặt nước chỉ vào khoảng 8 cây số vuông thôi, nhưng trải ra một diện tích mặt biển khoảng 240 ngàn cây số vuông (tài liệu của U.S. Institution of Peace ghi 800 ngàn cây số vuông).
Ngoài triển vọng dầu hỏa và khí đốt, quần đảo này có tầm mức quan trọng về chiến lược, nếu quốc gia chiếm giữ hải đảo hay đá ngầm có quyền xác nhận hải phận 12 hải lư quanh bờ đảo và 200 hải lư đặc quyền kính tế ngư sản.
Cuộc lấn chiếm Trường Sa của Trung Quốc có tầm mức quy mô và nguy hiểm cho Việt Nam về cả hai phương diện kinh tế và chiến lược (sẽ được phân tích ở phần sau). Cuộc lấn chiếm đầu tiên xảy ra năm 1976, sau khi họ đă thành công trong việc cưỡng chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của VNCH vào năm 1974, như đă sơ lược tŕnh bày trong phần nói về Hoàng Sa. Cũng theo phương pháp lấn chiếm cố hữu của kẻ ỷ mạnh làm càn, Trung Cộng đưa tàu chiến xâm nhập và đổ bộ trên các ḥn đảo không có người ở, cùng lúc ngang ngược công bố với thế giới rằng "toàn thể Nam Hải là nội hải của Trung Quốc và các quần đảo Trường Sa, Tây Sa là lănh thổ của Trung Quốc từ thời cổ xưa".
Năm 1988, cuộc xâm lấn liên tục của Bắc Kinh đạt quá mức chịu đựng của Hà Nội. Trong một cuộc đụng độ tại vùng đá ngầm Fiery Cross Reef (Băi Chữ Thập) vào ngày 14-3-1988, Hải Quân Trung Quốc đánh ch́m ba chiến hạm của Hải Quân CSVN, gây tử thương cho trên 72 thủy thủ đoàn. Đó là lần thứ nh́ sau cuộc chiến 1979, mà hai nước cộng sản "anh em" v́ quyền lợi quốc gia đă không tôn trọng "nghĩa vụ quốc tế" của chủ nghĩa cộng sản. Từ khi cưỡng chiếm vùng đá ngầm này, Trung Quốc đă biến nó thành một "ḥn đảo nhân tạo (arificial island) bằng cách xây cất trên vùng đá này một căn cứ tiếp liệu, một sân đáp trực thăng nhằm mục đích kiểm soát không phận, một cầu nổi dài 300 mét có khả năng cập cầu cho tàu thủy có trọng tải 4000 tấn, và một trạm máy thu nhận tối tân có khả năng thu nhận hiện tượng và phát sóng báo hiệu thời tiết cho tàu bè qua lại. Trên vùng đá ngầm Đa Lực (Johnson Reef) và băi chữ thập (Fiery Cross Reef), họ kiến trúc nhà ở, cḥi canh cho quân lính cư ngụ (h́nh 11, 12 và 13).


Theo Felix K Chang ("Beijing's reach in the South China Sea", ORBIS, Summer, 1996), cuộc lấn chiếm Trường Sa của Trung Quốc được tiến hành song song với sự thay đổi về quan niệm chiến lược, từ pḥng vệ duyên hải (jinhai fangyu) sang pḥng vệ viễn dương (jinyang fangyu). Năm 1992, Trung Quốc bắt giữ 20 tàu chở hàng của Việt Nam từ Hồng Kông đi qua Đông Hải. Tiếp theo, các nước quanh vùng như Phi và Mă Lai cũng lên tiếng phản đối Trung Quốc có tham vọng khống chế các nước quanh vùng Đông Hải. Mặt khác, v́ thấy Hà Nội quá yếu kém về mọi phương diện, chính các quốc gia này cũng nhảy vào chiếm đóng một số đảo trong vùng Trường Sa. Cho đến nay qua bao nhiêu lần phản đối một cách yếu ớt, Hà Nội vẫn không hề đưa vấn đề ra trước công pháp quốc tế để đ̣i lại các đảo đă bị Trung Cộng và các nước cưỡng chiếm. Nguyên do bí ẩn này sẽ được phân tích ở phần sau.
Dưới đây là bảng tóm lược về các vụ lấn chiếm hải đảo và lănh hải
Việt Nam của Trung Quốc
1974: Trung Quốc mang nhiều tàu chiến đến cho quân đổ bộ một số đảo của quần đảo Hoàng Sa. Trận hải chiến xảy ra. VNCH có một chiếc bị ch́m. Phía Trung Quốc có hai chiến hạm ch́m và 2 bốc cháy phải ủi vào bờ. Trung Quốc tăng viện bằng máy bay và tàu chiến tối tân, VNCH rút về. Hà Nội im lặng thỏa nhượng bằng văn thư của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng
1976: Trung Quốc tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc tỉnh Hải Nam (tức đảo Hainan) trong sự im lặng của Hà Nội, và sau khi hoàn tất cuộc thôn tính Hoàng Sa, bắt đầu cho tàu và quân chiếm đóng một số đảo của Trường Sa.
1988: Hải quân Trung Quốc và CSVN đụng độ tại vùng đá ngầm Chữ Thập (Fiery Cross Reef). Trung Quốc đánh ch́m 3 chiến hạm của CSVN và gây tử thương cho 72 thủy thủ. Từ đó Hà Nội giữ im lặng cho đến nay.
1992: Tháng 3, Hà Nội tố cáo Bắc Kinh khoan dầu trong hải phận Việt Nam, trong vịnh Bắc Việt, ngoài khơi Côn Sơn, và đổ bộ vùng đá ngầm Đa Lực. Cũng trong năm đó Trung Quốc bắt giữ 20 tàu Việt Nam chở hàng từ Hồng Kông đi qua Đông Hải. Trung Quốc công bố "Luật Biển của Trung Quốc - Chinese Law" xác quyết toàn vùng Đông Hải là nội hải của họ.
H́nh 14 là bản đồ chỉ dấu các quốc gia đang chiếm đóng mỗi đảo
do FAS Military Analysis Network thống kê.
Xem phần kế tiếp:
Phần Hai: Phân Tích
I. Các cuộc nhượng bộ của Hà Nội đối với Bắc Kinh
|